14 tháng 2, 2007

Tại sao người ta hút bàn là?

Nguồn: Báo Khoahoc.com.vn, ngày 12/2/2007

(GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NGƯỜI HÚT ĐỒ VẬT BẰNG KIẾN THỨC VẬT LÝ PHỔ THÔNG)

Gần đây, tivi có chiếu cảnh người có khả năng hút bàn là, thìa, đĩa,… Báo “An ninh thế giới” số 620, Thứ Bảy, ngày 6-1-2007 có đăng bài của tác giả Phạm Ngọc Dương với tiêu đề “Lý giải hiện tượng hút kim loại của các cảm xạ viên”. Trong bài có đăng ảnh một “cảm xạ viên hút được 19 KG sắt”, ảnh “nhạc sĩ Trần Tiến còn hút được cả đĩa bằng sứ...”.

Các nhà khoa học tên tuổi có nhiều ý kiến về sự lạ này, người thì cho đó là sự tác động của ý thức lên vật thể, người thì cho đó là hiệu ứng đặc biệt xuất hiện ở những người tập luyện cảm xạ lâu năm, rất huyền bí,... người thực thà nói là chưa thể lý giải được, người thì cho “đây sẽ là vấn đề mới của khoa học, sẽ mở ra chân trời mới cho các nhà khoa học nghiên cứu”.

Từ lâu, Kì Nam cũng đã “hút” bàn là như các cảm xạ viên, cũng “hút” thìa sắt, đĩa sứ như Trần Tiến. Kì Nam giải thích hiện tượng này bằng kiến thức vật lý phổ thông.

1. Hình chiếu trọng tâm của vật thể nằm trong hình chiếu của bề mặt tiếp xúc.

Để dễ theo dõi, xin được phép phân tích từ ảnh cảm xạ viên hút 19 KG sắt nhưng bỏ qua mấy thỏi sắt bên trên, còn lại ảnh người hút bàn là (ảnh chỉ mang tính minh hoạ). Để việc trình bày được ngắn gọn, xin dùng đồ thị 2 chiều.


Hình 1: Người hút bàn là



Hình 2: Mặt tiếp xúc giữa da và bàn là có vẽ đường viền tô đậm

Giữa da và mặt bàn là có một mặt tiếp xúc, trên hình 2, đường viền của nó được tô đậm. Đường AB chia vùng tiếp xúc thành 2 nữa, trọng tâm T1 của bàn là nằm trong mặt phẳng vuông góc với mặt đất (phẳng) và qua AB, cách AB một khoảng ngắn. Hình chiếu (thẳng đứng) của A trên mặt đất là A’, của B là B’, của T1 là T1’. Giả sử bàn là có trọng lượng là 2 KG (chữ G viết Hoa), có nghĩa là Quả Đất đã hút bàn là với một lực là 2 KG (ký hiệu P1, 1KG xấp xỉ 9,8 N - N là ký hiệu một đơn vị lực hợp pháp của Việt Nam, đọc là niu-tơn), điểm đặt của nó trên bàn là tại T1. Trong hình 3 và 4, trục X nằm trên mặt đất, trục Y nằm trong mặt phẳng qua AB và trọng tâm T1.


Hình 3: Phân tích hình chiếu trường hợp bàn là bám trên ngực



Hình 4: Phân tích hình chiếu trường hợp bàn là rơi xuống đất

Nếu hình chiếu của trọng tâm T1 (là T1’) nằm trong hình chiếu đoạn AB (là A’B’) (Hình 3) thì bàn là bám trên ngực. Nếu cúi người xuống một chút, sao cho hình chiếu bàn là nằm ngoài hình chiếu đoạn AB (Hình 4) thì bàn là rơi xuống đất.

Trường hợp có thêm mấy thỏi sắt cũng giải thích tương tự, trong đó T2 là trọng tâm thỏi sắt, T2’ là hình chiếu của nó trên mặt đất, P2 là lực trọng trường tác dụng vào thỏi sắt.

Trường hợp “hút” các thìa kim loại, các đĩa sứ, đĩa thuỷ tinh,... cũng giải thích tương tự.

Bạn nhìn kỹ các hình đã đăng trên báo, sẽ thấy rằng mặt tiếp xúc giữa vật và cơ thể đều phải nghiêng vừa đủ – sao cho hình chiếu của trọng tâm của vật nằm trong hình chiếu của diện tích tiếp xúc.

2. Vai trò của lực ma sát

Có một lực ma sát ở mặt tiếp xúc giữa da và bàn là đủ lớn để bàn là không trượt theo mặt nghiêng rơi xuống. Nếu bôi dầu luyn vào mặt bàn là thì bàn là rơi liền.

3. Vai trò của áp suất không khí.

Trong mặt tiếp xúc giữa da và bàn là có một lớp không khí mỏng. Nếu bàn là có cơ hội dịch ra khỏi da, lớp không khí này dãn nở ra, áp suất nhỏ hơn 1 at (át-mốt-phe), khi đó áp suất không khí bên ngoài, là 1 at, sẽ chống lại sự dãn nở nói trên và đương nhiên có tác dụng đẩy bàn là vào vị trí cũ.

Nếu lớp không khí mỏng này được thay bằng một lớp dung dịch không bay hơi (ở nhiệt độ thường) thì hiệu quả này là đáng kể bởi dung dịch hầu như không dãn nở trong điều kiện đang xem xét. Tuy nhiên, do da người luôn luôn ở trạng thái thở (thở bằng da) nên vai trò chống rơi của áp suất không khí rất hạn chế.

Nếu lót một tờ giấy mỏng vào mắt tiếp xúc nói trên thì hiệu quả này mất hẵn, bàn là sẽ rơi tức thì.

4. Hình dáng của bàn là


Hình 5: Nhạc sĩ Trần Tiến “hút” thìa kim loại, đĩa sứ...
(Ảnh theo nguồn báo ANTG số 620, ngày 6/1/2007)


Hình dáng của bàn là rất quan trọng. Trong ảnh là loại bàn là đế gang, trọng tâm của nó nằm sát mặt là. Nếu dùng loại bàn là có đổ đầy nước thì người biểu diễn phải nằm ngửa, bàn là mới ở trên ngực được. Chung quy là, phải dùng loại bàn là hoặc vật thể có trọng tâm rất gần mặt tiếp xúc, sao cho hình chiếu của trọng tâm nằm trong hình chiếu của mặt tiếp xúc - trở lại nguyên nhân số 1.

5. Vai trò của luyện tập

Sau một thời gian tập luyện theo các phương pháp luyện công, người ấm lên, trên mặt da xuất hiện một lớp mồ hôi mỏng – nguyên nhân số 3 phát huy tác dụng ở một chừng mực nào đó. Một số người bẩm sinh, không cần qua tập luyện, đã có lớp mồ hôi này rồi.

Tóm lại, có 5 nguyên nhân để người có thể “hút” các vật, trong đó nguyên nhân số 1 là chính: hình chiếu trọng tâm của vật phải nằm trong hình chiếu của mặt tiếp xúc. Hiện tượng người “hút” vật thể đã nêu trên báo khác hẵn hiện tượng nam châm hút sắt. Trừ khi dùng keo con voi, nếu cúi gập người xuống tất cả các vật trong ảnh sẽ rơi xuống đất. Trường hợp đặc biệt, không cần cúi, nếu ông Trần Tiến thót bụng lại, cái đĩa sứ trên rốn cũng sẽ rơi xuống liền.

Tổng tất cả các lực hút (trừ trọng lực), lực nâng, kể cả các lực siêu nhiên (nếu có), trong trường hợp này, không thắng nổi lực hút của Trái Đất theo định luật thứ 2 của ông Niu-tơn (định luật này đã có ghi trong giáo trình vật lý phổ thông).

Ghi chú: Các đoạn văn hoặc từ trong ngoặc kép " " là trích từ báo ANTG số 620, ngày 6-1-2007
Tác giả: Kì Nam
Email: hoanbt@fpt.vn
»»  đọc tiếp

1 tháng 2, 2007

Nguời ba mắt có thêm khả năng áp vong

Không chỉ có khả năng nhìn được bằng con mắt thứ ba (bịt mắt vẫn nhìn được), người phụ nữ kỳ lạ này còn bộc lộ thêm các khả năng đặc biệt khác. Rất nhiều nhà khoa học đang chăm chú theo dõi sự phát triển các khả năng của chị Hoàng Thị Thiêm.

Chị Hoàng Thị Thiêm, 40 tuổi, ở Lương Sơn, Hoà Bình, đã biểu diễn khả năng “bịt mắt” nhìn bằng ấn đường, được chúng tôi phản ánh và tổ chức toạ đàm (thông tin được đăng trên các số báo 82, 83 ra ngày 13 – 16/10/2006 và 89, ra ngày 6/11/2006) trước sự chứng kiến của các nhà khoa học và 25 báo đài trong cả nước.
Bịt mắt đi xe máy

Sau toạ đàm một thời gian, chị Thiêm được thử nghiệm bằng màn trình diễn khá mạo hiểm: bịt mắt đi xe máy tại vùng đồi núi quanh co, nơi chị sinh sống ở Lương Sơn, Hoà Bình. Ông Nguyễn Phúc Giác Hải, người được mệnh danh là bà đỡ cho các khả năng đặc biệt đã chứng kiến và ghi  băng, chụp ảnh.

Toàn bộ phần mắt của chị được bịt kín. Chị chỉ có thể “nhìn” bằng trán và thái dương. Đường thử nghiệm là đường đất đỏ, nhiều đồi núi dốc, quanh co vậy mà chị vẫn lái xe như người bình thường nhìn bằng 2 mắt.

Áp vong

Chúng tôi đến Liên hiệp tin học ứng dụng (UIA) khi chị Thiêm đang làm thử nghiệm về áp vong. Trong khoảng thời gian này, số gia đình đăng ký thử nghiệm áp vong tăng lên rất nhiều. Trung bình mỗi ngày, chị Thiêm làm cho khoảng 4 – 5 gia đình. Khi chúng tôi đến, chị Thiêm đang áp vong cho gia đình bà Nguyễn Thị Ngoan ở 140 Phạm Hồng Thái, Vũng Tàu.

Bà Ngoan có một người con gái tên là Nhật Hoa đã mất. Chị Hoa làm kế toán cho một công ty đăng kiểm hàng hải ở Vũng Tàu. Trong lần ra Hà Nội cùng bà để thăm thú bạn bè và họ hàng, chị Hoa đã bị cảm và mất cách đó hơn một tháng. Cái chết của chị Hoa làm bà Ngoan đau đớn đến tột cùng.

Sau khi được biết,  Liên hiệp tin học ứng dụng UIA đang thử nghiệm khả năng đưa vong người chết nhập vào người sống trong gia đình, bà đã đăng ký tham gia. Người được cử để đáp vong là chị Hạnh (chị là con anh trai bà Ngoan, người tận tình chăm sóc Nhật Hoa trong những ngày cuối cùng). Chị Thiêm đặt tay lên đầu chị Hạnh, lầm rầm khấn một vài câu, chị Hạnh gần như mê đi và nói với mẹ, với người thân như lúc Nhật Hoa còn sống.

Chứng kiến cảnh chị Hạnh ôm mẹ khóc chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Chị nói với mẹ một số kỷ niệm của hai mẹ con, nhắc mẹ chú ý tới sức khoẻ và dặn dò nhiều điều làm những người chứng kiến không khỏi rùng mình. Khi chị Thiêm bỏ tay ra khỏi đầu chị Hạnh, chị Hạnh dần trở về trạng thái ban đầu.

Sau thử nghiệm, chị cho biết: “Bản thân chẳng nhớ mình đã nói gì, chỉ có cảm nhận lờ mờ là cơ thể hơi tê tê”.

Để tìm hiểu cụ thể về áp vong,  chúng tôi  đã trao đổi với tiến sĩ Chu Phác, Chủ nhiệm bộ môn Cận Tâm Lý, Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người. Ông cho biết, áp vong tức là gọi vong lên cho nhập vào người thân trong gia đình, từ đó gia đình có thể trò chuyện với người đã mất. Trong thế giới tâm linh, có rất nhiều điều con người chưa khám phá được.

Từ trước đến nay đã có nhiều người gọi hồn của người thân cho nhập vào bà đồng cốt và đã nghe được tâm sự của người thân. Năm 2000, bản thân tiến sĩ Chu Phác đã có báo cáo về kết quả khảo sát khả năng đặc biệt của chị Nguyễn Thị Phương ở Hàm Rồng, Thanh Hoá. Chị Nguyễn Thị Phương sinh năm 1974 ở xã Hoằng Hoá, Thanh Hoá. Chị chỉ học hết lớp 7 phổ thông, đã có chồng và hai con.

Nhóm nghiên cứu của ông đã dùng phương pháp đo đạc của tâm lý học hiện đại cũng như phương pháp đo đạc ngoại cảm của Tiến sĩ Hans Eysenck và Carl Sargent, giáo sư giảng dạy tại trường đại học Cambridge (Anh) và các phương pháp tiếp cận khác.

Tất cả gia đình đến thử nghiệm đều không báo cho chị Phương tên mình và tên vong cần mời về, các gia đình chỉ cần thắp hương mời vong đi từ nhà mình. Khi vong của gia đình nào về, chị Phương báo cho gia đình đó vào nhận vong.

Thực tế thì gần như các trường hợp chị Phương đều mời được vong về, có sự xác nhận của người thân trong gia đình. Từ kết quả nghiên cứu này, theo ông Chu Phác, thế giới vật chất tối còn rất nhiều điều chưa lý giải nổi, vong được coi là vật chất mù, ở thế giới đó chúng ta chưa khám phá hết. Việc áp vong của chị Thiêm cũng là trường hợp đặc biệt, cần nhiều thời gian để nghiên cứu hơn mới khẳng định được.

Chữa tâm bệnh

Tiếp theo thử nghiệm áp vong, chị Thiêm được làm thử nghiệm chữa tâm bệnh. Theo một số nhà khoa học, người mắc tâm bệnh thường do gặp biến cố trong cuộc sống, có người do vong nhập vào khiến cuộc sống của họ bị đảo lộn. Họ như người tâm thần hoặc cảm thấy đau rất nhiều vùng trong cơ thể nhưng khi đi kiểm tra bằng y học hiện đại thì không tìm thấy bệnh hay nguyên nhân gây bệnh.

Chị Nguyễn Kim Thanh, 40 tuổi ở Khương Thượng, Hà Nội là người bị mắc tâm bệnh, đã chữa ở nhiều nơi nhưng không khỏi. Chị Thiêm cũng dùng phương pháp áp vong để chữa bệnh. Kết quả bệnh của chị Thanh có thuyên giảm nhưng chưa rõ rệt. Hiện những người được áp vong để chữa tâm bệnh ở Trung tâm này lên tới vài chục người. Do đang trong quá trình nghiên cứu nên chúng tôi chưa thể thông tin tới bạn đọc.

Cũng với cách áp vong của chị Thiêm, qua chị, các nhà khoa học tiếp tục thử nghiệm tìm mộ liệt sĩ bằng cách mời vong lên nói chuyện. Một số ca đã vê quê xác định và thấy đúng có liệt sĩ thật. Tuy nhiên, số mộ chị Thiêm tìm được còn ít nên chưa có cơ sở khẳng định khả năng này.

Ông Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp tin học ứng dụng UIA cho biết, qua những khả năng đặc biệt của chị Thiêm, tới đây Liên hiệp sẽ tổ chức kiểm chứng bằng phương pháp vật lý. Cụ thể, sẽ đưa máy đo nhập từ nước ngoài về để đo nhiệt độ cơ thể của những người được áp vong.

Nếu theo logic, khí vong nhập về thì nhiệt độ cơ thể người được áp vong sẽ giảm đột ngột trong một khoảng thời gian rất ngắn, lúc đó cơ thể họ cảm thấy hơi tê tê. Khi chưa có máy, Liên hiệp đã ghi nhận được một số trường hợp vong nhập về nói tiếng Nga, Trung Quốc... (thực tế những người đến áp vong không nói được ngôn ngữ này). Nếu quả thật chị Thiêm có khả năng giao tiếp ngược thì chúng ta sẽ khám phá được rất nhiều điều có ích cho cuộc sống.

Tin Viet Online
(Theo Khoa học và Đời sống)
»»  đọc tiếp

17 tháng 1, 2007

Một thầy lang dùng dụng cụ thợ nề để… đoán bệnh

Nguồn: Báo CAND, ngày 16-1-2007, theo camxahoc.com.vn

Chỉ cần 2 thanh kim loại, một quả dọi, thầy lang Đặng Văn Phú (45 tuổi), sống tại Từ Liêm, Hà Nội, cho biết rằng có thể nói chính xác những căn bệnh mà người ngồi trước mặt mình đang mắc phải. Không những thế, ông nói còn có khả năng chữa khỏi những căn bệnh nan y, mà hiện khoa học đang bó tay.

Ngay từ sáng sớm, khi cả gia đình ông Phú vẫn đang ngủ thì đã có nhiều bệnh nhân đến chờ và gọi cửa. Đã nhiều năm nay, vào các ngày chủ nhật, tại nhà ông Phú thường xuyên có khoảng 40 - 50 bệnh nhân từ nhiều tỉnh, thành phố đến khám và chữa bệnh.

Ông Phú ngồi cách bệnh nhân vài chục cm, cầm hai thanh kim loại màu trắng chĩa vào bệnh nhân, mồm lẩm bẩm, mắt không rời hai thanh kim loại. Sau đó ông Phú dùng một quả dọi hình đầu bút dọi xuống hai mẩu giấy tròn màu hồng, có hình vẽ. Khoảng 20 phút sau, ông đọc ra một loạt bệnh.

Theo thông tin dư luận, ngoài cách khám bệnh nêu trên, ông Phú còn có khả năng chữa trị được nhiều bệnh hiện y học đang bó tay như: Xơ gan, xơ gan cổ trướng, viêm gan B...

Chiều 1/11, chúng tôi đã có mặt tại nhà ông Đặng Văn Phú để tìm lời giải đáp. Sau những phút đầu khá thận trọng, ông Phú tỏ ra rất thoải mái và cởi mở. Suốt hơn hai tiếng đồng hồ, ông cung cấp, diễn giải quá trình khám, chữa bệnh của mình. Cuối buổi làm việc, chúng tôi còn được ông trực tiếp khám bệnh bằng phương pháp nói trên.

Theo lời ông Phú, ông là Tiến sĩ hóa học- nguyên Trưởng phòng của Viện Khoa học công nghệ xây dựng (sau này là Phòng Nghiên cứu ăn mòn và bảo vệ công trình - Viện Khoa học công nghệ xây dựng). Tuy mới nghỉ hưu từ năm 2000, nhưng ông Phú khám chữa bệnh cách đây hàng chục năm. Ông Phú cho biết, ghề chữa bệnh của ông là do mẹ nuôi Hoàng Thị Ngọt, “một bà lang chữa bách bệnh” ở Tây Tựu, Từ Liêm, truyền lại. Từ năm 1975, chỉ với những bài thuốc gia truyền, bà Ngọt đã chữa khỏi nhiều loại bệnh như: Gan, xơ gan cổ trướng (dưới độ 3), sỏi thận, phù thận, viêm sỏi mật, dạ dày, đại tràng mãn tính, thoái hóa, gai cột sống... Bà Ngọt chữa khỏi bệnh gì thì ông Phú cũng được truyền lại và chữa được bệnh ấy.

Khi hỏi đến kiểu khám bệnh kỳ lạ, ông Phú “thuyết trình” rằng hình thức khám bệnh của ông dựa vào biện pháp năng lượng cảm xạ. Để tiến hành phương pháp khám bệnh này, ông đã nghiên cứu tài liệu của một số người. Để có đủ khả năng khám bệnh bằng biện pháp trên, người ta cần phải có những khả năng đặc biệt khác người và ông có khả năng đó.

Bằng cảm nhận từ xa, ông có thể đoán được người tìm đến bị bệnh gì, thậm chí còn chẩn đoán được bệnh nhân đang bị ung thư độ 1,2 hay 3. Ông Phú khẳng định, cũng bằng cách trên và không cần phải lấy máu xét nghiệm, ông có thể biết người ngồi trước mặt mình có bị nhiễm HIV hay viêm gan B không.

Về khoản đơn giá “thuốc”, ông cho biết, ví dụ để chữa căn bệnh viêm gan B, mỗi tuần bệnh nhân uống hết 70.000 đồng tiền thuốc và thời gian để khỏi bệnh chắc chắn là 1,5 năm với tổng giá tiền khoảng 3 - 4 triệu đồng; gai cột sống chữa trị khoảng 2,5 năm (hết khoảng gần 9 triệu tiền thuốc); thoái hoá cột sống 1,5 năm; xơ gan chữa trị hết hẳn khoảng 1 năm; đau dạ dày nếu như loét bờ cong nhỏ thì mất 1 năm... Khám bệnh không lấy tiền, nhưng mỗi gói thuốc uống một ngày cũng đã mất tới 10.000 đồng (mà các loại bệnh nan y thì phải uống hàng năm trời mới khỏi).

Trở lại câu chuyện hành nghề, ông Phú thừa nhận rằng ông không có giấy phép nên không treo biển, không chính thức hành nghề. Tuy nhiên, những năm trước, ông có báo cáo với UBND xã nên dù không có giấy phép hành nghề nhưng xã vẫn rất ủng hộ.

Ông Quang Ngọc - một bệnh nhân trú tại tổ 40, phường Hoàng Văn Thụ - Hà Nội cho biết ông vốn là người có khá nhiều bệnh như huyết áp cao, hen phế quản mãn tính, gai cột sống... Sau một thời gian điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai không thuyên giảm, nghe tin về khả năng chữa bệnh của ông Phú, ông Ngọc đã tìm đến đây, khám bệnh và bốc thuốc. Sau khi khám bệnh, ông Ngọc mua 16 gói thuốc giá 160.000đ về uống. Dùng chưa hết số thuốc trên, ông Ngọc đã bị lên cơn hen không thở được, khiến huyết áp tăng vọt phải vào Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu

(Xuân Luận - Việt Hà)
»»  đọc tiếp

8 tháng 1, 2007

Lý giải hiện tượng hút kim loại của các cảm xạ viên

Nguồn: Báo An Ninh Thế Giới, số 620, Thứ Bảy, ngày 6-1-2007

Theo ông Kim Hoàng Sơn, nhà nghiên cứu cảm xạ đầu tiên của nước ta, ngày xưa, khả năng cảm xạ được coi là một bản tính trời sinh, được phủ một lớp màu huyền bí, nhưng ngày nay, cảm xạ học được phổ biến rộng rãi và ai cũng có thể thực hiện cảm xạ nếu như như người đó yêu thích và kiên nhẫn rèn luyện đúng cách

Theo ông Sơn, con người có giác quan thứ sáu. Thời tiền sử, lúc con người còn ăn lông ở lỗ, sống giữa hoang vu rừng rậm, trước sự đe dọa của thú dữ, luôn luôn lo sợ những tai ách thiên nhiên, thì con người, mặc dầu rất yếu đuối trước vũ trụ, nhưng đã có bản năng để đáp ứng nhu cầu sinh sống và bảo tồn nòi giống của mình.

Khi đó, dù trình độ trí tuệ chưa bằng ngày nay, ngôn ngữ còn thô sơ, song loài người đã tồn tại bởi bản năng thầm kín và mạnh mẽ, để tìm ra mạch nước lành, hay miếng mồi ngon lót dạ, hoặc tìm đến hang đá ấm áp để che mưa nắng. Chính bản năng ấy hướng dẫn mọi hoạt động và trước những đe dọa thì bản năng thức dậy.

Bản năng con người thời kỳ sơ khai được tạo hóa đặt trên một bình diện cao hơn bản năng thú vật, bởi vì ngoài bản năng, con người còn có trí thông minh và trí nhớ, là những nguyên lý căn bản của sự hiểu biết. Từ khả năng nhận xét những sự kiện xảy ra, cho đến những hiện tượng vô hình, con người đã bắt chước, so sánh và thí nghiệm để nhờ trực giác dẫn đến những kết luận.

Đến khi con người tìm ra lửa, có nghĩa là có cách bảo vệ hữu hiệu và cải thiện đời sống của mình thì sự hiểu biết và kinh nghiệm cũng gia tăng để đưa con người xa dần cuộc sống ăn lông ở lỗ. Hoạt động bản năng không còn mạnh mẽ như trước vì đã nhường chỗ cho lý trí và kinh nghiệm hiểu biết.

Bản năng con người không được thường xuyên sử dụng đã giảm bớt mức quan trọng rồi ẩn sâu bên trong con người, dưới lương tâm và ý chí. Tuy nhiên, bản năng vẫn không bao giờ mất hẳn trong con người. Bản năng vẫn bền bỉ, linh động dưới dạng tiềm lực, sẵn sàng hoạt động bất ngờ để phát sinh ra trực giác, linh cảm, ám ảnh, trong những trường hợp mà trí óc không thể phân tích được. Tác dụng vô thức của bản năng được gọi là tiềm thức và nó có ý nghĩa khác với bản năng thú tính.

Cũng theo ông Kim Hoàng Sơn, cảm xạ học chính là sự chất vấn tiềm thức cá nhân của mình để có câu trả lời. Câu trả lời trong cảm xạ học chính là những tác động vô hình làm cho quả lắc hay chiếc đũa trên tay nhà cảm xạ chuyển động. Việc lực hút xuất hiện trong cơ thể của những người luyện cảm xạ cũng là do sự tác động của tiềm thức, song cũng huyền bí như tiềm thức con người.

Ông Sơn, bác sĩ Dư Quang Châu, người nghiên cứu rất sâu về môn cảm xạ, cũng như nhiều nhà khoa học cảm xạ vẫn chưa lý giải cặn kẽ được cơ chế sinh ra lực hút. Các nhà cảm xạ học chỉ biết rằng, khi tập luyện theo phương pháp cảm xạ sẽ khơi gợi được tiềm thức, phát sinh nội lực trong cơ thể và từ đó có sức hút đồ vật mạnh mẽ.

Qua các bài tập, cơ thể sẽ nhạy cảm với các hiện tượng tự nhiên khiến con người có rất nhiều khả năng đặc biệt khác nữa như: tìm mạch nước ngầm, mỏ quặng, xác định “tia đất”, “ám khí”, “ác xạ”... phát tiết từ lòng đất gây nên bệnh tật cho con người.


Nhạc sĩ Trần Tiến còn hút được cả đĩa bằng... sứ

Nhà khoa học Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng, người đã bỏ cả chục năm nay để nghiên cứu môn cảm xạ học thì lý giải hiện tượng hút đồ vật của cơ thể con người từ việc nghiên cứu sự tác động qua lại giữa vật thể và ý thức thể.

Theo ông Khanh, giữa vật thể và ý thức thể có 4 loại tác động: vật thể tác động vật thể; vật thể tác động ý thức thể làm thay đổi ý thức thể (vật chất làm thay đổi ý thức); ý thức thể tác động làm thay đổi vật thể (làm di chuyển, biến dạng cấu trúc vật thể bằng tác động cách không) và cuối cùng là ý thức thể tác động với ý thức thể (hay còn gọi là tâm giao tâm, tức nói chuyện bằng ý nghĩ, ngoại cảm).

Cũng theo ông Khanh, khoa học hiện đại có thể chưa chú ý đầy đủ đến phần ý thức thể tác động làm thay đổi vật thể và còn coi hiện tượng tâm giao tâm là ngoài khoa học, là thần bí, thậm chí mê tín dị đoan. Việc ý thức thể có thể tác động, điều khiển được vật thể mạnh hay yếu là phụ thuộc vào khả năng của mỗi người. Những học viên cảm xạ điều khiển được vật, hút được vật nặng hay nhẹ là do khả năng sẵn có trong mỗi con người kết hợp với sự luyện tập kiên trì để phát huy sức mạnh của ý thức thể.

Ông Khanh và các nhà nghiên cứu của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng đưa ra một nhận định khá đặc biệt, trái với triết học duy vật: ý thức thể cũng là một dạng vật chất!

Ông Khanh cho rằng, thế giới tự nhiên tác động vào con người bằng ánh sáng, âm thanh, mùi, vị, qua các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Sự tác động của tự nhiên đến các giác quan sẽ sinh ra thức (nhận thức) như: thích, không thích, hợp, không hợp...

Cũng từ đây mới sinh ra hỉ, nộ, ái, ố... và tạo ra phản ứng cho cơ thể. Sự phản ứng đồng thời sẽ sinh ra lực cộng hưởng rồi tạo ra tác động lực. Tác động lực sẽ phát ra không gian (gọi là năng lượng sinh học) mạnh hoặc yếu. Hiện nay, với máy móc hiện đại như điện tâm đồ, điện não đồ đã đo được năng lượng sinh học của con người.

Chính năng lượng sinh học tiềm ẩn sinh ra điện trường, từ trường mà thường gọi là trường sinh học. Trường sinh học sẽ tạo ra hiện tượng tâm giao tâm, gọi là “truyền âm nhập mật” hay “ngữ nghĩ truyền thanh”, tức là có thể trò chuyện, hiểu được tâm tư của nhau bằng ý nghĩ.

Cũng theo lý giải của ông Khanh, dù con người mất đi, song trường sinh học sẽ tồn tại vĩnh viễn. Các nhà cảm xạ tài ba có thể thu, phát, dịch được trường sinh học nên có khả năng đặc biệt là vì thế. Qua lý giải này thì một số nhà nghiên cứu về tiềm năng con người đã khẳng định ý thức thể, tâm thức cũng là một dạng vật chất, nhưng là vật chất đặc biệt, có sự chuyển đổi biến ảo khôn lường.

Chẳng hạn, khi một võ sĩ bị đấm gục trên sàn, song khi người yêu đến cổ vũ, hoặc khán giả cổ vũ rầm rộ thì ý thức thể sẽ chuyển năng lượng vào các cơ bắp, làm cho cơ bắp đã rệu rã có một sức mạnh phi thường, có thể vùng lên đánh bại đối phương, đảo ngược tình thế. Qua đây, có thể thấy ý thức thể là một dạng vật chất rất mạnh và trong tương lai có thể lượng hóa được bằng khoa học, máy móc hiện đại. Vì ý thức thể là một dạng vật chất nên nó có thể tác động làm biến đổi vật thể (?!).

Chính lực điện trường, từ trường sinh ra trong cơ thể khiến cơ thể hút được các vật kim loại, còn lực sinh học chỉ có sức mạnh khi luyện tập ở mức độ cao, tất nhiên không kể do bẩm sinh. Lực sinh học không những hút được kim loại mà có thể hút được các loại vật chất khác. Các bài tập cảm xạ đã khơi dậy khả năng tiềm ẩn của ý thức, tạo cho con người có điện trường, từ trường và trường sinh học mạnh mẽ, khai mở ra khả năng vô biên của con người, mà việc hút các đồ vật chỉ là một khả năng nhỏ.

Nhà khoa học Vũ Thế Khanh cho rằng, mỗi tế bào trên cơ thể chúng ta đều có nguồn năng lượng, song chúng ta không biết sử dụng nên năng lượng của các tế bào hoạt động không theo mong muốn của chúng ta. Nếu mỗi tế bào phát năng lượng theo một hướng thì không khác nào trong đội bóng mỗi cầu thủ đá một kiểu, không có chiến thuật, không có sự phối kết hợp nên không tạo ra sức mạnh tập thể.

Tập cảm xạ sẽ giúp vô thức phát huy, vô thức sẽ tích hợp năng lượng của các tế bào theo một hướng, giải phóng năng lượng theo sự điều khiển của ý thức sẽ tạo nên lực cộng hưởng vô cùng mạnh mẽ (cũng như kéo co mà dùng lực cùng lúc thì mới tạo ra sức mạnh). Hiểu một cách đơn giản, mỗi tế bào (cơ thể người có tỉ tỉ tế bào) là một cục pin, nếu ta tích điện tỉ tỉ cục pin lại thì sẽ tạo ra nguồn điện siêu lớn.

Các võ sư, các nhà yoga là những người hiểu điều này nhất, họ đã biết cách tích hợp năng lượng cơ thể để làm được những việc phi thường: nằm trên bàn chông, cho ôtô tải leo lên người... Thậm chí, các nhà yoga huyền thoại còn phát năng lượng sinh học làm cho cơ thể mình trôi bồng bềnh trên không, hoặc hạn chế sự hoạt động của tế bào ở mức thấp nhất nên có thể để người khác đem chôn xuống đất cả tháng không chết. Các cảm xạ viên hút được vật thể có nghĩa là lực hút cơ thể đã mạnh hơn lực hút trái đất, song nếu xét về sức mạnh vô biên của cơ thể thì năng lượng hút thìa, nĩa hay vài cục sắt chỉ là rất nhỏ.

Việc con người luyện tập để có được khả năng trên là rất tuyệt vời, nhưng theo ông Khanh, cái được lớn nhất là sức khỏe. Cơ thể con người có khả năng tự chữa bệnh cho mình, môn cảm xạ sẽ khơi gợi, phát huy các chức năng đó mạnh mẽ hơn. Phát huy được khả năng tiềm ẩn trong cơ thể sẽ thau rửa được những cặn bã, là những nguyên nhân gây bệnh cho con người. Học môn cảm xạ, ta sẽ hiểu rằng, thuốc men chỉ là thứ hỗ trợ cho khả năng tự chữa bệnh của cơ thể. Nếu cơ thể không có khả năng tự chữa bệnh thì thuốc tiên cũng không có tác dụng.

Phạm Ngọc Dương

-----------------------------------------------
GS-TS Vũ Hoan (Phó chủ tịch Hội Các ngành Sinh học Việt Nam): Luyện tập cảm xạ có tác dụng tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, tăng cường khả năng nhạy cảm để khai thác khả năng tiềm ẩn của bản thân, mang lại lợi cho mình và giúp ích cho đời, cho người, cho thân tâm trong sáng mãi mãi.

Bác sĩ Dư Quang Châu: Mặc dù là giáo viên dạy môn cảm xạ, nghiên cứu, viết nhiều sách về cảm xạ học, song tôi vẫn chưa thể lý giải được hiện tượng cơ thể hút được đồ vật sau khi tập cảm xạ. Điều kỳ lạ là khi tôi sử dụng nhạc chầu văn và trống cơm của dân tộc làm nền cho các buổi tập thì thấy năng lượng trong cơ thể học viên tăng lên rất nhanh và mạnh.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải: Trên thế giới cũng có hiện tượng cơ thể hút được đồ vật. Tôi cũng đã nghiên cứu một người ở Việt Nam có khả năng ấy và giới thiệu lên chương trình Chuyện lạ Việt Nam mới đây. Trước kia, ở Việt Nam cũng có một bé gái có khả năng hút đĩa sứ. Tuy nhiên, những người tôi nghiên cứu đều do bẩm sinh. Trong các tài liệu về yoga cũng nhắc đến khả năng này, nhưng phải tập luyện rất lâu và có căn cơ mới thành công được. Việc ở nước ta có một lớp học cảm xạ đào tạo được nhiều người có khả năng hút đồ vật thì quả là kỳ lạ và lý thú, đây sẽ là vấn đề mới của khoa học, sẽ mở ra chân trời mới cho các nhà khoa học nghiên cứu.

----------------------------------------------
Xem thêm bài phản hồi của một đọc giả đăng trên khoahoc.com.vn
»»  đọc tiếp

Mỗi người đều tiềm ẩn một sức mạnh đang ngủ yên

Nguồn: Báo Lao Động, Số 22 Ngày 06/01/2007


Nhà cảm xạ Dư Quang Châu.
(LĐ) - Đi học ở Vương quốc Monaco về y năng lượng (YNL - Médeciene EÁnergétique), sau này tốt nghiệp Học viện Địa Trung Hải (Pháp, 1992-1996) về dược thảo, không dừng lại đó, bác sĩ Dư Quang Châu chuyển sang nghiên cứu năng lượng cảm xạ học (NLCXH). Từ đó đến nay, ông là người đặt nền tảng đầu tiên cho môn khoa học này phát triển ở VN.

Gặp lại ông sau chuyến chu du khắp Đông Âu hơn một năm, có thể nhận thấy nét sảng khoái trong ánh mắt, tiếng cười. Ông nói: "Cộng đồng người Việt ở Đông Âu cũng bắt đầu tìm hiểu bộ môn này. Chúng tôi mở nhiều lớp học về NLCX, rung động thư dãn (RĐTD), vũ điệu vô thức (VĐVT)...


Học để tăng cường sức khoẻ, và cũng có nghĩa khám phá khả năng từ bên trong cơ thể. Sau vài lần thí nghiệm, chúng tôi đã phát hiện ra lực hút tự nhiên ở mỗi con người: Không phải bậc võ lâm vận nội công, mà những người bình thường chỉ cần tập trung quán tưởng là có thể hút nhiều vật lên người. Càng tập nhiều, khả năng hút càng mạnh hơn. Nói như thế, nghĩa là trong mỗi người đều tiềm ẩn một sức mạnh đang ngủ yên, phải biết làm nó tỉnh thức và sử dụng nguồn năng lượng đó. Trước tiên, chúng ta phải nhận thức nó, làm chủ nó, sau đó đem sử dụng để khai thác có hiệu quả và để sống tốt hơn".


Xin ông giải thích rõ về bộ môn cảm xạ học vẫn còn khá mới mẻ ở VN?
- Cảm xạ học (tiếng Pháp là radiesthésie, xuất phát từ tiếng Latin là radius - tia xạ, và aisthesis - nhạy cảm) là khả năng nhạy cảm của con người với bức xạ các vật thể. Khoa học hiện đại đã chứng minh mọi sinh vật, khoáng vật đều có bức xạ dưới dạng sóng và con người có khả năng cảm nhận, sử dụng lượng thông tin đặc biệt này, nếu có kiến thức NLCXH cùng các công cụ hỗ trợ.


Thoạt tiên, tôi sang học YNL tại Monaco, nhưng do mê thích tìm hiểu năng lượng cảm xạ (chữa bệnh bằng năng lượng từ tính, cảm xạ học và năng lượng tâm thể, giác quan thứ 6) mà chuyển sang nghiên cứu CXH. Hiện tôi đã mở nhiều lớp ở Hà Nội và TPHCM, ngoài ra còn thành lập Hội Năng lượng Cảm xạ VN tại Châu Âu.


Cụ thể những ứng dụng của NLCXH ở VN là gì?
- Ở VN, trong 8 năm qua, các học viên đã thu được kết quả khả quan trong việc nâng cao sức khoẻ bản thân, khắc phục và xử lý được ô nhiễm môi trường nhà ở, kích thích tăng trưởng thảo mộc, kiểm tra chất lượng thực phẩm, thuốc men. Ngoài ra, môn NLCXH còn được vận dụng trong kiến thức xây dựng, địa chất; tìm và xác định nơi có hài cốt liệt sĩ đạt kết quả. Đó là trường hợp CX viên Ngô Văn Nam, Nguyễn Thư Hùng, Lê Thị Thọ (Năm Cẩm), Hồ Văn Dũ...


 Điều tâm đắc nhất của chúng tôi là sự mạnh dạn tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học VN, như GS Hoàng Quý, GSTS Vũ Hoan, GSTS Trần Văn Hà, GSTS Trần Bá Hoành, PGS Phạm Gia Văn...


Ông nói rằng mỗi người là một radar sống, có thể phát triển nguồn năng lượng nội tại để lập lại sự cân bằng của hệ thống thần kinh thực vật. Như vậy, làm thế nào để có thể đánh thức được nguồn năng lượng đó đang tiềm ẩn trong mỗi người?
- Mỗi cây cỏ có một rung động khác nhau. Mỗi cơ thể cũng vậy. Trên mỗi cơ thể lại có những vùng với những rung động khác nhau. Từ những sóng rung động ấy, ta có thể có chìa khoá để mở cửa vào tâm thức của con người.


Thứ nhất, là đo sóng khu vực nhờ vào đũa Michel và con lắc.


Thứ hai là lắng nghe chính mình, lắng nghe sự rung động ở mỗi khu vực trên cơ thể và tự nó biến thành bài luyện tập giúp giải phóng được một số ức chế ở các khu vực trong cơ thể.


Tóm lại, RĐTD vô thức giúp con người trở lại trạng thái quân bình. Khi tinh thần thư thái thì con người cũng sẽ cảm thấy sự thay đổi tích cực trong mối quan hệ với người khác, với cộng đồng... Cho nên, giáo dục tâm thức rất quan trọng vì đó chính là sự liên kết con người lại với nhau.




Các học viên thực hành 
hút các vật kim loại lên người.
Có thể hình dung về sự giáo dục tâm thức ấy ra sao?
- Trong rừng có nhiều cỏ dại. Tôi không khuyên mọi người nhổ cỏ, mà khuyến khích trồng hoa. Vì nhổ cỏ thì sẽ không bao giờ nhổ hết tận gốc. Trồng hoa tới đâu, người ta nhổ cỏ đến đó. Vô tình, khi người ta nhổ cỏ trồng hoa, ý niệm nhổ cỏ không còn nữa, mà chỉ là chăm dưỡng cái đẹp. Cái xấu sẽ không có dịp phát triển, tự đẩy lùi mà không để lại thù hận. Nếu chỉ nhổ cỏ như nhổ trừ cái xấu thì sẽ gây lòng thù hận không sao dập tắt được. Khi tập luyện, con người sẽ cảm nhận môi trường chung quanh tinh tế hơn, giàu lòng yêu thương với bản thân mình và người chung quanh hơn. Khi mỗi cá nhân tự làm đẹp mình một cách tích cực, thì xã hội cũng dần tốt đẹp lên.


Ở ông có một tư duy sắc bén khi viết sách. Sách của ông thường giải thích dễ hiểu, cặn kẽ, ngắn gọn các phương pháp chữa bệnh bằng năng lượng CX, cũng như việc rèn luyện thiền động để thư dãn và chống stress. Ông cũng là người xây dựng vũ điệu vô thức VN. Ban đầu sử dụng chầu văn, loại hình âm nhạc duy nhất mà GS Trần Văn Khê cho là thuần chất VN, làm âm nhạc hỗ trợ cho thiền động, sau này là các loại nhạc khác, kể cả nhạc Trịnh Công Sơn, ông cho rằng có thể giải phóng con người khỏi áp lực của đời sống. Ông Châu còn có sáng kiến mở tour du lịch chống stress, dạy NLCXH cho người cai nghiện, cho những người còn đang trong trường phục hồi nhân phẩm để họ sống không uổng phí cuộc đời còn lại.


Xin ông nói về vũ điệu vô thức VN mà nhóm của ông đang tiến hành thực nghiệm ở phía Bắc, ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga trong thời gian qua?
- VĐVT là một phương pháp được kết hợp bởi môn rung động thư dãn của NLCX, với nhịp điệu của chầu văn, lời thơ của CX. Khúc nhạc chầu văn rất rộn rã, sống động, hồn nhiên, cùng với cây đàn nguyệt, một bộ phách, đôi khi một chiếc trống con, cũng đủ kích thích cử động chân tay, múa may, đi "về miền ảo tưởng", đồng thời khiến cho năng lượng tiềm ẩn ở trong con người đi vào vận động làm tăng sức sống. Cho nên, người nghe nhạc điệu này trong lúc tập luyện cảm thấy khoan khoái và hưng phấn, có tác dụng giải toả và thăng hoa.


Phải hiểu chầu văn không chỉ để nghe mà đưa người ta vào cuộc với sự vận động cơ thể tích cực (chủ yếu phần trên cơ thể) hướng về tâm linh. Khi múa, nếu con người thực sự để tâm hồn mình hoà vào lời ca, tiếng nhạc thì sẽ hoàn toàn đạt được cảnh giới vô thức. Lúc đó, hệ thống thần kinh tự động điều chỉnh thành những điệu múa riêng biệt cho từng người. Đấy cũng là lúc cơ thể tự điều chỉnh để đạt trạng thái cân bằng, có tác dụng trị liệu cho bản thân người múa. Như vậy, cuộc hành hương về cội nguồn của vũ điệu vô thức VN phải bắt đầu từ chầu văn để có thể thấy nhịp đập thế giới tâm linh của ông cha.


Ông cho rằng ai cũng có thể thực hiện vũ điệu đó?
- Đúng. Ở hiện tượng lên đồng, chỉ những người có năng lực khác thường, có "căn", có "số" mới làm được. Họ ở trong tình trạng ám thị hoặc tự ám thị. Khi nhập đồng, họ thể hiện con người đa nhân cách; lúc là ông Hoàng Bơ, lúc thì cô Sáu, cô Bơ Thoải. Họ không còn là họ nữa, mà là cái xác để người khác nhập vào. Còn ở vũ điệu vô thức, những con người bình thường được là mình, không bắt chước ai, không ai nhập vào mình cả, biểu hiện chính thần khí của riêng mình.


Trong cuốn sách gần đây nhất, ông sử dụng liệu pháp RĐTG để cai nghiện ma tuý và chống sâu bệnh ở cây trồng. Xin ông nói rõ hơn về phương pháp này?
- Về cai nghiện ma tuý, đã có không ít trường hợp cả gia đình CX viên phối hợp chữa trị cho con em thành công. Chung quy lại, ma tuý là một bệnh tiêu biểu do thận thuỷ khí suy kiệt với những biến chứng can mộc khí suy và tâm hoả khí vượng.


Ngoài trị liệu rung động thư dãn có tác dụng làm trong sạch được khí trong cơ thể, còn phải uống thuốc và kết hợp phục hồi tâm thần của bệnh nhân để hoá giải những đau khổ về thể xác, tinh thần và tình cảm. Còn về phần chống sâu bệnh, chúng tôi từng giúp CLB trang trại TP chống sâu bệnh ở Tây Ninh cùng một số nơi khác. Dùng dây đồng quấn quanh thân cây có thể kích thích cây tăng trưởng, ra trái. Dây đồng tiếp nhận bức xạ của trường năng lượng còn có tác dụng như một trạm thu phát điện tự tạo điện trường bao phủ mặt đất, nên sâu bọ khắc tự bỏ đi.


Người Ai Cập có câu: "Hãy đặt tay lên chỗ đau và nói sự đau đớn hãy biến đi". Không phải ngẫu nhiên mà nhà cảm xạ Dư Quang Châu viết trong lời mở đầu các cuốn sách: "Người ta chữa bệnh bằng đôi tay và trái tim. Đến một ngày nào đó, chúng ta có đủ yêu thương để không cần dùng đến bàn tay nữa". Năng lượng bàn tay có thể hàn gắn nỗi đau và tinh thần con người. Năng lượng đó cho thấy còn một cánh cửa khác, cánh cửa kiến thức, sức mạnh còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân và khả năng khai phóng tinh thần tự thân, khả năng kết tụ của tâm thức Việt.





Nhật Lệ thực hiện
»»  đọc tiếp

12 tháng 6, 2006

Cỗ nam châm sống

Nguồn: Dân Trí Online, ngày 11/06/2006

(Dân trí) - 15 năm trước, ông Liew Thow Lin người Malaysia ngỡ ngàng phát hiện ra mình có khả năng đặc biệt: “hút” tất cả các đồ vật bằng kim loại dính chặt vào người.

Thậm chí khi gắn một thanh sắt ngang trước ngực, ông có thể đặt gần chục kg gạch lên đó mà vẫn cử động bình thường.

Kỷ lục đáng nhớ nhất là lần kéo xe bằng… bụng: chiếc xe 4 chỗ hiệu Kancil được nối với dây xích, đầu dây gắn liền tấm biển sắt hút chặt vào bụng ông Liew.

Màn trình diễn thực hiện cách đây 5 năm, khi ông Liew vừa bước sang tuổi 70. Lần đó, người kéo xe đi được 20 m. (Ảnh).

Điều ngạc nhiên là khả năng kì diệu của ông Liew Thow Lin mang tính… di truyền: 3 người con trai và 2 đứa cháu nội của ông cũng có thể hút kim loại lên người như thế.

Nhiều người cho rằng, nguyên nhân gây nên hiện tượng đặc biệt này là do bao quanh cơ thể ông Liew có môi trường từ tính đặc biệt, thế nên chỉ khi nào đồ vật kim loại tiến đến sát người ông thì mới bị hút vào.

Tuy nhiên các nhà khoa học không đồng tình với lập luận này. Sau nhiều nghiên cứu, họ đi đến kết luận: “Da ông Liew có một lực hút đặc biệt. Năng lực đó là có thật chứ hoàn toàn không phải là ảo giác. Đây là lý do vì sao con cháu ông cũng trở thành “nam châm sống” giống ông cụ”.

Ông Liew phát hiện ra khả năng kỳ lạ của mình sau lần đọc bài báo viết về nông dân Tan Kok Thai ở tỉnh Tanjung Rambutan, Thái Lan, có thể hút đủ các loại đồ vật lên người: kim loại, đất đá, cao su, gỗ, thậm chí cả… chuối, sau đó ông Liew bắt chước làm theo.

Thực ra, ông Tan Kok Thai (ảnh), năm nay 71 tuổi, còn nhiều màn trình diễn ngoạn mục hơn thế nhiều.

Ông “hút” được cả điều khiển từ xa, máy điều hòa nhiệt độ, xe đạp, bàn là, tuýp thuốc đánh răng, thức ăn đóng hộp…

Năm 2001, ông Thai còn “gắn” cả 1 phiến đá nặng 38,5 kg lên ngực mình.

Thùy Vân (Tổng hợp)
»»  đọc tiếp

7 tháng 10, 2003

Cảm xạ học - từ huyền bí đến khoa học

Nguồn: Tuổi trẻ Chủ nhật, ngày 05/10/2003.

TTCN - Cùng lúc Trường đại học Lund danh tiếng của Thụỵ Điển công nhận “Thần giao cách cảm” là một môn khoa học thì ở Việt Nam, ngày 6-9-2003 Trường đại học Hồng Bàng (TP.HCM) cũng ra mắt Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng cảm xạ địa sinh học. Hiệu trưởng Trường Hồng Bàng, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng - khẳng định: việc xây dựng trung tâm nghiên cứu này dưới góc độ khoa học là nhằm “đưa ra anh sáng” những vấn đề mà nhân loại đang quan tâm nhưng chưa giải thích được.

Cảm xạ học (CXH), tiếng Pháp Radiesthésie (xuất phát từ hai tiếng Latin là Radius - tia sáng, tia xạ và Aisthesis - nhạy cảm) là khả năng nhạy cảm của con người với bức xạ từ các vật thể. Khoa học hiện đại đã chứng minh mọi sinh vật, khoáng vật… đều có bức xạ dưới dạng sóng và con người có khả năng cảm nhận, phân tích và sử dụng được lương thông tin đặc biệt này trong đời sống xã hội, nếu có kiến thức CXH và các công cụ hỗ trợ.


Rèn luyện thể chất
Từ hàng ngàn năm trước người ta đã biết đến hoạt động hết sức huyền bí của những nhà chiêm tinh, thầy bói, phù thủy, đồng cốt.. qua việc tìm mỏ quặng, tìm mạch nước ngầm, xác định địa trạch, dự báo thời tiết, dự đoán tương lai - thời vận, tìm ngưòi và đồ vật mất tích... Tuy nhiên, vì không có các luận cứ khoa học thuyết phục, người ta chỉ còn biết phủ lên những hiện tượng, sự việc ấy những “tấm màn tôn giáo mờ ảo”, giải thích sự việc bằng thần linh ma quỉ, phép thuật phù thủy.. và CXH thường bị nhìn nhận như những hoạt động mê tín dị đoan.

Ngay cả những năm gần đây, mặc dù xã hội đã phần nào thừa nhận khả năng “tìm mộ” của một số ít người có “khả năng ngoại cảm”... nhưng nhìn chung CXH vẫn cứ là lĩnh vực khó nói đến và còn “bán tín bán nghi”, mà cản trở đầu tiên vẫn là chưa giải thích, thuyết phục được bằng luận cứ khoa học.

Về lịch sử CXH VN, vào đầu những năm 1970, ông Kim Hoàng Sơn đã có viết sách về CXH và hướng dẫn một số người học môn này. Rồi hơn 20 năm sau, bác sĩ Dư Quang Châu tu nghiệp ở Pháp về đã cùng một số cộng sự tổ chức nghiên cứu, thực hiện “VN hóa” môn CXH hiện đại, xuất bản nhiều đầu sách, nội san và mở các lớp huấn luyện CXH. Từ năm 1998, dưới sự bảo trợ của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ưng dụng (UIA), lần đầu tiên ở nước ta môn CXH chính thức được quan tâm nghiên cứu dưới hình thức một đề tài khoa học mang số hiệu 812 do bác sĩ Dư Quang Châu làm chủ nhiệm.

Tuy chỉ mới xúc tiến trong một thời gian ngắn nhưng những gì tổng kết được thật sự hết sức thú vị. Họ đã thu được những kết quả khả quan trong ứng dụng CXH vào việc điều chỉnh, nâng cao sức khỏe con người (rèn luyện tâm thể, thể chất, chẩn đoán bằng cảm xạ - CX), khắc phục va xử lý ô nhiễm môi trường nhà ở, kích thích tăng trưởng thảo mộc, kiểm tra chất lượng thực phẩm và mỹ phẩm, vận dụng trong kiến trúc xây dựng, địa chất...


Kiểm tra thức ăn
Hiện nay bộ môn CXH VN đang tiến hành nghiên cứu thực nghiệm hai đề tai nhánh là cai nghiện ma túy (ở khu vực phía Bắc) và sử dụng năng lượng CX kích thích tăng trưởng và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng (ở khu vực phía Nam).

Chiếc đũa, con lắc và khả năng nội sinh

Bất cứ vật thể hay sinh vật nào cũng có sóng bức xạ, nhưng để “điểm mặt, chỉ tên” được sóng bức xạ thì con người phải nhờ những dụng cụ đặc biệt, có tác dụng truyền dẫn và khuếch đại sóng. Nói là đặc biệt nhưng thật ra những dụng cụ CXH hết sức đơn giản, gọn nhẹ, xưa kia thường chỉ là những chiếc que hình chữ y, chiếc gậy bằng gỗ hạnh và các con lắc, có khi làm bằng sỏi, đá.

Nhưng những gì sử sách ghi lại (cả bằng chữ lẫn hình vẽ) đã cho thấy các nhà CXH xưa kia đã tìm ra nhiều tài nguyên, kho báu, mạch nước ngầm dưới lòng đất chỉ nhờ những dụng cụ đơn giản như thế.


Tìm mạch nước ngầm
Qua hàng ngàn năm trải nghiệm, các dụng cụ CXH đã được bổ sung, cải tiến, hiện đại hóa nhưng chủ yếu theo hướng thay thế vật liệu còn hình dạng, tính năng thì ít thay đổi. Dụng cụ CXH phổ biến ngày nay là các con lắc bằng inox hay thạch anh, đôi đũa kim loại hình l, mô hình kim tự tháp bằng vật liệu nhẹ, những viên đá thạch anh nhiều màu, cac hình vẽ CX đồ..

Đặc biệt từ con lắc truyền thống, gần đây một người VN tên là Michel Trần Văn Ba đã sáng tạo ra cây đũa Michel vừa có hình dạng, tính năng của đũa CX lại vừa là quả lắc nhưng độ nhạy cảm cao hơn nhiều so với hai dụng cụ trên.

Con lắc CXH có thể “trả lời” được các câu hỏi của CX viên, khi quay thuận hay quay ngược chiều kim đồng hồ. Tất nhiên, trước khi đặt câu hỏi với dụng cụ CX, CX viên phải thực hiện đúng một qui trình nghiêm ngặt. Để nhận biết được sóng bức xạ, CX viên hằng ngày phải thường xuyên tập luyện các bài tập “rung động thư giãn” (thiền động) tới mức đủ năng lượng CX. Đây là khâu quan trọng và cũng khó khăn nhất của bộ môn CXH và cung là lý do vì sao chỉ có ít người thực hành được CX.

Dụng cụ chỉ là bổ trợ, khả năng nội sinh của con người mới là yếu tố quyết định thành công trong CXH. Khả năng ấy chỉ có thể có được nếu con người kiên trì nghiên cứu, tập luyện và “lắng nghe” chuyển động của cơ thể mình …

Tương lai CXH Việt Nam 


Xác định giới tính
Ngày 18-4-2003, tại Hà Nội có một cuộc hội ngộ khá đặc biệt của hàng trăm CX viên. Đa phần họ là những ngưòi có trình độ học vấn cao, nhiều người là cán bộ hưu trí lão thành như ông Nguyễn Niệm - nguyên ủy viên Trung ương Đảng, bí thư Tỉnh ủy Lai Châu ông Châu Phong - nguyên viện trưởng Học viện Quan hệ quốc tế, cựu đại sứ VN tại vương quốc Anh, phó giáo sư; tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng; kiến trúc sư - giảng viên Lê Văn Lâm; nhà địa chất kỳ cựu Tạ Văn Dũng..

Có người đến với CXH do muốn tham gia nghiên cứu một bộ môn khoa học mới, có người vì mục đích chữa bệnh và lại có người chỉ vì tò mò! Sau chương trình học sơ cấp ba tháng, hầu hết học viên cho biết đã thu được kết quả trong ứng dụng thực nghiệm rèn luyện sức khỏe, chữa bệnh, điều chỉnh môi trường địa từ trường nhà ở, kiểm tra đối chiếu với phương pháp địa chất, kiến trúc học hiện đại.

Riêng ở Câu lạc bộ CXH quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, ông chủ nhiệm Trần Văn Đông khẳng định 100% CX viên đều có sức khoẻ tốt hơn trước. Phát huy những thành công bước đầu ở khu vực phía Bắc, ngày 11 - 10 tới đây tại Hà Nội lần đầu tiên sẽ khai giảng lớp huấn luyện ứng dụng năng lượng CX trong chống tái nghiện ma túy cho CX viên đã học qua chương trình sơ cấp.

Còn tại TP.HCM và một số tỉnh phía Nam như Đồng Nai, Lâm Đồng, đến nay bác sĩ Dư Quang Châu và các cộng sự đã liên tiếp tổ chức được 19 khóa huấn luyện kiến thức CXH. Đặc biệt, với sự phối hợp tích cực của ông Huỳnh Hữu Hạt - chủ nhiệm Câu lạc bộ trang trại TP.HCM - đề tài ứng dụng năng lượng CX tăng trưởng và phòng trừ sâu bệnh cho thảo mộc đang có những bước tiến khả quan.

Ở VN, việc nghiên cứu, ứng dụng môn CXH dưới góc độ khoa học mới chỉ là giai đoạn sơ khởi. Nhưng như ý kiến kiến trúc sư Lê Văn Lâm trong buổi tổng kết năm năm thực hiện đề tài khoa học này: “Nghiên cứu CXH mới thấy mỗi người chúng ta có những khả năng nội sinh, và trong hoàn cảnh ăn đã no, mặc đã ấm hiện nay CXH sẽ giúp chúng ta đáp ứng được nhu cầu thiết yếu nữa là có được môi trường sống tốt hơn”

NGUYỄN VĂN HÙNG
»»  đọc tiếp

6 tháng 10, 2003

Cảm xạ học giúp cây trăng trưởng nhanh, giảm sâu bệnh?

Nguồn: Tuổi trẻ Chủ nhật, ngày 05/10/2003

TTCN - Ông Phùng Hữu Hạt, chủ nhiệm Câu lạc bộ Trang trại TPHCM, nơi đã ứng dụng cảm xạ học để kích thích tăng trưởng và phòng trừ sâu bệnh cho thảo mộc - cho biết: “Quả thật lúc đầu chúng tôi bán tín, bán nghi”. Tuy nhiên, sau khi thử ứng dụng phương này trên một số loại cây trồng, chúng tôi đã thu được một số kết quả bước đầu khá lý thú.

Cách nay một năm, tại trang trại của ông Quang (Tân Biên, Bình Phước) gần 50 nhà khoa học và chủ trang trại đã tiến hành ứng dụng cảm xạ học trên 100 cây nhãn. Mục đích là nhằm đưa năng lượng cua môi trường tác động vào cây nhãn giúp nó phát triển tốt.

Dụng cụ để thực hiện là dùng con lắc (làm bằng inox, có hình tương tự như viên đạn và có dây để cầm) để gần sát cây nhãn và “hỏi” con lắc: sóng xoay theo chiều nào? Nên cuốn bao nhiêu vòng dây đồng cho cây (cuốn dây đồng nhằm “kéo” đạm và tạo môi trường cục bộ tốt cho cây phát triển tự nhiên)? Cuốn theo chiều nào? Đầu dây đồng nên hướng về đâu?.. Con lắc “trả lời” thế nào thì làm theo thế ấy.

Tiếp đến là cắm đầu âm của sợi dây đồng (đường kính 1-2 ly) xuống đất, đầu dương lên trời và bẻ cho đầu dây trên xoay về hướng bắc. Một năm sau, những cây nhãn có cuốn dây đồng cho trái to đều hơn, bóng hơn và cây ít sâu bệnh hơn những cây không cuốn sợi dây đồng.

Thử nghiệm biện pháp này trên cây mai cũng cho thấy hoa đẹp hơn, rực rỡ hơn; trên một nhánh mít đang bị sâu bệnh thì một thời gian sau thấy nhánh mít đó giảm hẳn sâu bệnh; hoặc dùng biện pháp này để bón đúng nhu cầu phân cho cây trồng, hay để tìm những nơi có nguồn nước ngầm…cũng đạt một số kết quả khả quan.

Đ.LONG
»»  đọc tiếp